Có nhiều cách định
nghĩa SOA. Có định nghĩa mang tính kỹ thuật, thường liên quan đến một
số thuật ngữ như WSDL, SOAP, XSD, XML, SCA... Cũng có định nghĩa mang
tính nghiệp vụ thể hiện tính liên kết giữa các khả năng công nghệ thông
tin (CNTT) với mô hình nghiệp vụ trong doanh nghiệp. Xét cho cùng, dịch
vụ là những gì mà doanh nghiệp nghĩ rằng họ đang cung cấp cho khách
hàng. Do đó, SOA chính là nền tảng CNTT để cung cấp những dịch vụ đó.
Oracle bắt đầu nhận thấy SOA tái thiết vai trò của CNTT đối với việc
đổi mới kinh doanh và đây chính là con đường dẫn tới sự đổi mới nhanh
nhất cho khách hàng. SOA không phải là một phần mềm riêng lẻ, đó là cơ
chế kiến trúc lại hệ thống nhằm nâng cao khả năng chia sẻ thông tin và
ứng dụng. SOA giúp các tổ chức hai việc:
- Đơn giản hóa và nâng cao hiệu quả cho môi trường CNTT phức tạp.
- Tạo ra kiến trúc tích hợp các ứng dụng, cho phép các doanh nghiệp có
thể đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu mới của khách hàng trong môi trường
cạnh tranh và không ngừng thay đổi.
Ở phương diện nào đó, SOA là một giải pháp cho tính phức tạp của CNTT.
Bằng việc đơn giản hóa các khả năng của CNTT thành các dịch vụ nghiệp
vụ cụ thể được sắp xếp và quản lý, giám sát và đánh giá, các khả năng
CNTT (hay nói cách khác là danh mục dịch vụ nghiệp vụ – business
services portfolio) nhờ đó được nhìn nhận từ góc độ cung cấp các dịch
vụ nghiệp vụ cho doanh nghiệp hơn là các ứng dụng và hệ thống công
nghệ.
Một trong những yếu tố “hấp dẫn” là SOA phát triển dựa trên sự thay đổi
do các yêu cầu kinh doanh thay đổi không ngừng. Nhưng kiến trúc và
phương pháp tiếp cận hiện tại quá cứng nhắc đã cản trở sự thay đổi.
Điều này buộc các khách hàng phải xem xét, chỉnh sửa hoặc nâng cấp lại
kiến trúc, đòi hỏi đầu tư nỗ lực, kinh phí trong giai đoạn phát triển
ban đầu.
Ngay từ ban đầu, việc kết hợp công nghệ và các nguyên tắc tuân thủ của
SOA cho phép các nhà phát triển ứng dụng xây dựng những ứng dụng hoàn
chỉnh bằng cách từng bước hoàn thiện, tăng cường và đổi mới các dịch vụ
đã cung cấp từ giai đoạn trước. Nó bảo đảm sự gắn kết hài hòa cả hai mô
hình tự phát triển (in-source) – đổi mới là động lực chính cho sự thay
đổi và mô hình thuê khoán bên ngoài (out-source) – giảm chi phí và tái
sử dụng cũng là động lực cho sự thay đổi.
Một trong những định nghĩa sai lầm nhất về SOA là coi SOA là một công
nghệ. Mặc dù SOA hoạt động được là nhờ công nghệ, nhưng khách hàng cần
phải chuyển đổi từ chỗ chỉ việc tích hợp công nghệ SOA sang việc phải
điều chỉnh các phương pháp thực hiện dự án, chính sách bảo trì và thay
đổi để đạt được các lợi ích về khả năng trưởng thành và đáp ứng.
SOA thực sự cần thiết như thế nào?
Rất nhiều người đã hỏi rằng, liệu SOA có phải là thứ “có cũng tốt” hay là cái thực sự cần cho doanh nghiệp?
Thật ra, SOA sẽ nhanh chóng trở nên cần thiết khi các doanh nghiệp bắt
đầu nhận ra rằng lợi ích nó mang lại vượt xa các khía cạnh kỹ thuật: đó
chính là sự lớn mạnh về khả năng ứng dụng CNTT. Giống như Internet tạo
ra con đường mới cho thương mại, SOA chỉ ra cho khách hàng con đường để
cấu trúc tổ chức CNTT thành các danh mục, các dịch vụ thay vì là các hệ
thống và ứng dụng. Oracle khuyến khích khách hàng nghiên cứu SOA để tìm
ra những phương thức chủ chốt dẫn đến thành công trước khi họ bắt đầu
các dự án. Điều này cho phép doanh nghiệp tập trung vào cái gì là quan
trọng nhất.
Hầu hết các khách hàng của Oracle đã bắt đầu triển khai các ứng dụng
dựa trên kiến trúc SOA. Một số khách hàng đã áp dụng vài năm nay và sử
dụng các công nghệ độc quyền nhưng hoàn toàn phù hợp với những nguyên
lý SOA.
Ở điểm nào đó, doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ SOA và công bố rằng họ
đang triển khai dự án SOA. Và trên thực tế, sự thành công trong việc
triển khai các dự án đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự
thành công của SOA. Điều đó giải thích tại sao Oracle đã rất năng động
khi làm việc với khách hàng trong những dự án dựa trên SOA ban đầu để
góp phần bảo đảm các dự án này thành công. Khi những dự án SOA ban đầu
thành công, doanh nghiệp thường có xu hướng sử dụng công nghệ SOA trong
các dự án tiếp theo. Chúng tôi khuyến khích khách hàng cân nhắc cả hai
yếu tố thành công về mặt kỹ thuật và thành công về mặt nghiệp vụ. Điều
này sẽ cho phép các bên liên quan trực tiếp thấy được lợi ích của SOA.
Một số tiêu chí đánh giá bao gồm số lượng các dịch vụ tái sử dụng, số
lượng dịch vụ được sử dụng, chi phí của dịch vụ. Những tiêu chí này là
cơ sở để tính toán khả năng hoàn vốn đầu tư (ROI) cho khách hàng.
Mức độ ứng dụng SOA ở châu Á tăng 44%
Một cuộc nghiên cứu gần đây của Forrester cho thấy việc ứng dụng SOA ở
khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã tăng 44%. Theo số liệu của Oracle, ở
Việt Nam nhu cầu về nền tảng công nghệ SOA của Oracle (Oracle SOA
Technologies) rất lớn. Để giúp khách hàng của Oracle ở Việt Nam đưa ra
được các quyết định quan trọng về CNTT, Oracle đã và đang chia sẻ thành
công việc triển khai các ứng dụng sử dụng nền tảng công nghệ Oracle SOA
trên toàn thế giới để họ hiểu được những lợi ích mà họ có thể đạt được.
Các doanh nghiệp trong nước thường muốn biết SOA mang lại những gì cho
các doanh nghiệp tương tự trên thế giới.
Như đã đề cập ở trên, Việt Nam và các nước khác trong khu vực Đông Nam
Á rất quan tâm đến việc tìm hiểu kỹ càng về SOA và đã thực hiện những
dự án SOA đầu tiên. Rõ ràng là những thành công của các dự án SOA ban
đầu này đã cho thấy SOA không chỉ là công nghệ. Có rất nhiều khách hàng
bàn về việc thay đổi phương pháp thực hiện dự án để đạt được những lợi
ích lớn hơn từ SOA vì họ đã nhìn thấy sự liên hệ giữa phương pháp và
kết quả sẽ đạt được.
Ngành viễn thông, một ngành có những hệ thống thông tin phức tạp nhất
trên thế giới, đã thể hiện mình là một trong những ngành triển khai SOA
thành công nhất. Ngành dịch vụ tài chính hiểu rất rõ về các dịch vụ và
quy trình nghiệp vụ đang ngày càng tiếp cận với SOA cho phép họ phát
triển các dịch vụ mới nhanh hơn. Chúng ta cũng đã được thấy những lợi
ích to lớn trong những ngành dịch vụ công, bán lẻ cũng như lĩnh vực sản
xuất.
Nói như vậy không có nghĩa là Oracle không gặp những thách thức nào
trong việc chinh phục thị trường Việt Nam. Oracle phải tìm cách thay
đổi được quan điểm của các doanh nghiệp Việt Nam cho rằng SOA phức tạp
và tốn kém hơn việc phát triển các ứng dụng và tích hợp truyền thống.
Trên thực tế, doanh nghiệp khách hàng không nhất thiết phải tính toán
tổng chi phí để sở hữu các sản phẩm CNTT, nhưng nếu làm họ sẽ nhanh
chóng nhận ra rằng chi phí sẽ giảm đáng kể khi triển khai dịch vụ đó.
Cũng có một số cách khác để thay đổi những nhận thức sai lầm này là làm
việc với các bên liên quan để phát triển một mô hình nghiệp vụ
(business case) cho SOA. Oracle đã thực hiện nhiều lần với các khách
hàng thông qua kế thừa các mô hình giá trị SOA (SOA Value Patterns) đã
được khách hàng khác ứng dụng thành công.
Theo Thời báo Vi tính Sài Gòn
"Tìm hiểu về Lịch sử thế giới" www.bachkhoatrithuc.vn