Còn khi lựa chọn tùy chọn máy tính cá nhân
(private computer) thì mặc định thời hạn 8 giờ không thao tác sẽ được
cho phép trước khi phiên làm việc hết hạn, rõ ràng thời hạn này lâu hơn
nhiều so với thời hạn trong tùy chọn của máy tính công cộng. Chúng ta
cũng có thể thay đổi thời hạn này trong một key registry tương tự:
Key: HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Services\MSExchangeOWA
Name: PrivateTimeout
Type: DWORD
Value: {number of minutes}
Cần nhớ rằng với những thời hạn này không phải là
con số chính xác và sẽ có một dung sai nhất định trên các giá trị được
sử dụng. Microsoft cho biết thời hạn thực sẽ dao động trong khoảng 1
đến 1.5 lần giá trị cài đặt do phương pháp mà Client Access Server quay
vòng qua các key mã hóa. Do đó chúng ta cần phải lưu ý điều này khi
kiểm thử thời hạn trong OWA. Ngoài ra, nếu sử dụng ISA Server để kết
nối OWA ngoài, thì chúng ta cần cài đặt những giá trị thời hạn tương tự
trong ISA Server cho phù hợp với người dùng.
Trong hình 2, chúng ta thấy màn hình FBA đang mở. Trên màn hình này
người dùng phải cung cấp thông tin đăng nhập trong định dạng domain\username
(cài đặt mặc định). Chúng ta có thể thay đổi thông báo đăng nhập để chỉ
yêu cầu nhập tên người dùng, hay User Principal Name (UPN – Tên thật
của người dùng). Tuy nhiên trước khi thực hiện điều này chúng ta cần
tính đến các vấn đề bảo mật.
Nếu muốn thay đổi thông báo đăng nhập chỉ yêu cầu tên người dùng, thì
chúng ta có thể thực hiện qua Exchange Management Console hay Exchange
Management Shell. Trong Exchange Management Console, mở hộp thoại thuộc tính Properties của thư mục ảo /owa rồi chọn tab Authentication (hình 1). Tại đây chúng ta có thể lựa chọn kiểu thẩm định quyền FBA phù hợp với yêu cầu. Trong Exchange Management Shell, chúng ta có thể sử dụng lệnh Set-OwaVirtualDirectory với tham số LogonFormat. Những tùy chọn của tham số LogonFormat gồm:
- FullName: Giống với tùy chọn domain\username trong hình , do đó người dùng phải nhập cả tên miền và tên người dùng khi đăng nhập vào OWA.
- PrincipalName: Tham số này phù hợp với tùy chọn UPN trong hình 1 và nó yêu cầu người dùng nhập UPN để thẩm định quyền.
- UserName: Tùy chọn này chỉ phù hợp với tùy chọn username only
trong hình 1. Lưu ý, nếu sử dụng Exchange Management Shell để cài đặt
tùy chọn này chúng ta sẻ phải cài đặt tùy chọn miền mặc định qua tham
số DefaultDomain của lệnh Set-OwaVirtualDirectory.
Sau khi thực hiện xong chúng ta sẽ phải khởi động lại IIS để áp dụng những thay đổi.
Thẩm định quyền trong OWA – Standard Authentication
Nếu đã hay đang quản lý môi trường Exchange 2000
hay 2003, có thể chúng ta đã làm quen với phương pháp Standard
Authentication (thẩm định quyền chuẩn) của quá trình Basic
Authentication (thẩm định quyền cơ bản), Digest Authentication (thẩm
định quyền từng phần) và Integrated Windows Authentication (thẩm định
quyền Windows tích hợp).
Với Basic Authentication đã được cấu hình trên thư mục
ảo /owa trong một Client Access Server, người dùng sẽ thấy hộp thoại
thẩm định quyền như trong hình 4. Mặc định Basic Authentication sẽ
không bảo mật nếu SSL không được bổ sung.
Hình 4: Hộp thoại Basic Authentication.
Integrated Windows Authentication rất hữu
dụng trong trường hợp những thông tin đăng nhập hiện tại của người dùng
được máy chủ sử dụng để xác thực người dùng. Với phương pháp này, người
dùng không phải nhập lại các thông tin đăng nhập. Ví dụ, một người dùng
có thể đăng nhập vào máy tính làm việc bình thường sử dụng thông tin
tài khoản trong Active Directory, rồi truy cập vào Internet. Sau đó
người dùng này có thể lựa chọn truy cập vào một Client Access Server đã
được cấu hình sử dụng Integrated Windows Authentication. Trong trường
hợp này người dùng này sẽ truy cập vào OWA ngay lập tức mà không phải
đăng nhập lại. Tuy nhiên, nếu ISA Server được sử dụng để truy cập OWA
ngoài, và đã được cấu hình với FBA, với những thủ tục thẩm định khác
nhau tùy thuộc vào người dùng đó truy cập nội bộ hay truy cập ngoài có
thể gây phiền phức cho người dùng. Do đó, có một số công ty triển khai
FBA trên các Client Access Server riêng biệt chỉ thực hiện hỗ trợ cho
các phiên OWA nội bộ.
Digest Authentication cũng được sử dụng bởi người dùng có tài
khoản trên miền Active Directory. Với Digest Authentication, khả năng
bảo mật được tăng cường do các mật khẩu mà người dùng nhập vào được gửi
như một giá trị Hash khi chúng được gửi qua mạng tới máy chủ thẩm định.
Tuy nhiên, lưu ý rằng khi sử dụng Digest Authentication thì những thông
tin thẩm định của người dùng sẽ lưu lại trên bộ nhớ tạm của OWA. Do đó
chúng ta cần xem xét sử dụng FBA trong trường hợp có vấn đề bảo mật
phát sinh.
Kết luận
Trong phần này chúng ta đã tìm hiểu các phương
pháp thẩm định hiện có và đi sâu tìm hiểu các tùy chọn cấu hình của
Forms-Based Authentication (FBA).
Theo Quantrimang (MSExchange)
"Những kiến thức cần cho cuộc sống" www.bachkhoatrithuc.vn