Computer - Communication - Control. 3C INC
 
Nhiều người quan tâm
Khi modem không tự động quay số
Các cách bấm dây mạng RJ45
Điều khiển máy tính từ xa bằng Radmin 3.0.1
Thủ thuật về Proxy (Sock) và cách sử dụng
Cài đặt, cấu hình, quản trị ISA Server 2004 Firewall
VPN là gì?

Mạng & truyền thông


In bài này Gửi bài viết này cho bạn bè
(Thứ Sáu, 18/12/2009-10:13 AM)
Bài 1 - Computer Network và kiểu mẫu OSI
Mạng điện toán (Computer Network) là một tập hợp gồm nhiều máy vi tính cá nhân, các máy cung cấp dịch vụ (servers) thông tin liên lạc với nhau qua nhiều loại thiết bị truyền và nối mạng khác nhau.
 

1.1 Computer Network

Mạng điện toán (Computer Network) là một tập hợp gồm nhiều máy vi tính cá nhân, các máy cung cấp dịch vụ (servers) thông tin liên lạc với nhau qua nhiều loại thiết bị truyền và nối mạng khác nhau. Mạng chuyển vận dữ kiện trong nhiều môi trường khác nhau, tỷ như: nhà, thương nghiệp nhỏ và lớn, công tư sở, đại học, ... Nếu mạng trãi rộng, có thể chia thành đơn vị như trụ sở trung ương (main office) và các chi nhánh phụ (branch office), ngay cả home office và các người dùng máy vi tính lưu động (mobile users).

Tại sao ta cần mạng điện toán (Computer Network)?

Mục đích để trao đổi hay dùng chung tài nguyên, cương liệu cũng như nhu liệu với nhau, tỷ như: máy in, file server, application server, email server, chỗ chứa dữ kiện, backup devices, cơ sở dữ liệu (Database) hay các ứng dụng (application), các dữ kiện, các thông tin, hình ảnh, ...

Vào năm 1960, ARPA (U.S. Department of Defense's Advanced Research Projects Agency) lưu tâm vận dụng các nghiên cứu về packet switched networks vì mạng này có khả năng cắt các chuỗi dữ kiện (data stream) thành các đơn vị nhỏ hơn và chuyển vận từng đơn vị đó một cách độc lập xuyên qua một mạng chung (shared network).

Nhắc lại, mạng điện thoại cổ điển dựa trên phương thức circuit switching, nghĩa là phải thiết lập một nối thường trực với băng truyền cố định giữa 2 máy. Đến khi nào, không còn dùng để thông tin nữa, nối mới được tháo bỏ. Như vậy, nếu không đủ thiết bị để nối, ta không thể nào gọi được. Tuy nhiên, một khi nối được thành lập, chất lượng tải được bảo đảm vì nối được dành riêng với băng truyền cố định. Circuit switching còn cho phép máy của người dùng thiết kế 1 cách đơn giản, tỷ như: máy điện thoại với một vài công dụng vì tổng đài sẽ quản lý và kiểm tra mọi chuyện.

Ngược lại, packet switching network yểm trợ băng truyền chung 1 cách công bằng giữa các người dùng. Tuy nhiên, không bảo đảm chất lượng truyền và có thể chậm trể. Nhưng, khi truyền dữ kiện, ta đâu cần sự đáp ứng tức khắc mặc dù trên thực tế sự truyền và đáp ứng này rất nhanh. Khi nào, các đơn vị chuyên chở dữ kiện đó tới nơi tới chốn bình an, ta sẽ ... 'hạ hồi phân giải'. Hiển nhiên, packet switching network đặt nhiều hy vọng vào sự thông minh của máy vi tính ở nơi gởi và nơi nhận (end nodes or end hosts) và mạng chỉ đơn giản thực hiện sự chuyển vận các đơn vị dữ kiện nhỏ từ nơi này đến nơi khác qua đủ 'vạn nẻo đường ... phù sa'. Như vậy, còn gì thích hợp cho mạng điện toán hơn. Packet switching network không những vận dụng hiệu quả tài nguyên mạng (vì dùng mọi băng truyền chứ không để dành cho riêng một ai) mà còn dễ dàng thiết kế mạng để kiểm tra, rà tìm các nối hay thiết bị hư hỏng, ngoài ra mạng còn dễ dàng bành trướng nhanh chóng với ngân sách tiết kiệm.

1.2 Kiểu Mẫu OSI (OSI Model)

Theo truyền thống, mọi giải thích về mạng điện toán (Computer Network) đều bắt đầu với kiểu mẫu OSI (Open System Interconnection) do ISO (International Organisation for Standardisation) thành hình.

Tuy nhiên, không giống như cách trình bày của đa số tài liệu đã có từ trước, bắt đầu với tầng (hay lớp, layer) thứ nhất là tầng Network lần lượt đến tầng 2, 3, ... rất khó hiểu, ta bắt đầu với tầng thứ 7 (tầng Application) trước.

Trước tiên, ta cần biết kiểu mẫu OSI đã dùng khái niệm về công dụng khác nhau chia làm 7 tầng ( 7 layers) khi chuyển vận dữ kiện từ 1 máy này đến máy kia. Mỗi tầng đều riêng biệt, có công dụng và trách nhiệm khác nhau. Mỗi tầng chỉ có thể thông tin với tầng trên và tầng dưới nó mà thôi.

Nhưng tại sao, ISO lại làm chia như vậy?

Xin thưa, cho đời ta ... bớt khổ.

Nhờ chia công việc và trách nhiệm rõ ràng như thế, ta có thể quản lý, thiết kế hay kiểm tra, tìm lỗi dễ dàng trong mạng điện toán (Computer Network).

Hãy quan sát kiểu mẫu OSI như sau:

Layer 7: Application Layer

Giả dụ như ta dùng ứng dụng (application) Internet Explorer ở máy vi tính A, nhập 1 URL (Universal Resource Locator) tỷ như: http://a.com vào hộp chữ Address để theo học khóa Tự Học TCP/IP của a.  Internet Explorer (IE) chạy trong máy A muốn đối thoại trực tiếp với Web Server của a (máy vi tính B) để yêu cầu gởi về trang chủ và hiển thị trang này trên máy A của ta.

Tuy nhiên, tầng ứng dụng thứ 7 này (Application Layer) chỉ chịu trách nhiệm về ứng dụng (application) và giao diện của người dùng (user interface) chứ không nối trực tiếp với ứng dụng (application) của Web Server trên máy B nên máy A đành ... 'ngậm ngùi đưa em sang sông' bằng cách đóng thùng gởi xuống tầng kế dưới là tầng thứ 6: tầng Trình Bày (Presentation Layer). Đó là lý do ta biểu hiện một đường nối không liền lạc giữa 2 tầng Application.

Khi đóng thùng gởi đi như vậy, application layer cẩn thận ghi rõ chi tiết thông tin của tầng mình vào 1 chổ gọi là Header. Trong thí dụ ở đây, Layer 7 Header bao gồm mọi thông tin về ứng dụng (application) IE để web server ở máy B hiểu phải làm những gì (hay cung cấp dịch vụ gì) hầu đáp ứng thỏa đáng yêu cầu máy A.

Lưu ý: ứng dụng (application) dùng trong tầng này không chỉ có IE mà còn e-mail, chuyển vận tập tin (file transfer), terminal emulaition, ... Ngay cả ứng dụng chứng thực người dùng (user authentication) cũng nằm trong tầng 7.

Layer 6: Presentation Layer

Tầng Presentation chịu trách nhiệm phiên dịch hay chuyển nguồn mã từ dạng này qua dạng khác, mục đích cho người gởi (máy A) và người nhận (máy B) hiểu nhau, tỷ như: máy A có thể dùng EBCDIC (Extended Binary Coded Decimal Interchange Code) nhưng máy B lại dùng ASCII hay Unicode.

Cũng giống như tầng Application, tầng Presentation của máy A không đối thoại trực tiếp với tầng Presentation của máy B (web server) nên lại đóng thùng gởi xuống tầng kế dưới là tầng thứ 5: tầng Session (Session Layer). Khi đóng thùng gởi đi như vậy, presentation layer cẩn thận ghi rõ chi tiết thông tin của tầng mình vào Layer 6 Header (hay Presentation Layer Header).

Trong trường hợp này, user data ở tầng 6 bao gồm Header tầng 7 cộng với user data tầng 7 (hay còn gọi là payload của tầng 6). Cứ như thế, tiếp tục cho tới tầng cuối cùng trước khi đem con bỏ chợ, ... à không, 'đưa em vào siêu xa lộ thông tin'.

Layer 5: Session Layer

Tầng Session chịu trách nhiệm thành lập, quản lý và kiểm tra các nối giữa 2 máy A và B. Tầng này cũng chịu trách nhiệm trao đổi, quản lý các đối thoại hay trao đổi, quản lý dữ kiện giữa các tầng presentation của máy A và B. Ngoài ra, còn cung cấp các dự tính sao cho việc chuyển vận dữ kiện hiệu quả, chất lượng (CoS - Class of Service) và quản lý, báo cáo các ngoại lệ nếu có (exception reporting).

Cũng giống như tầng Presentation, tầng Session của máy A không đối thoại trực tiếp với tầng Session của máy B (web server) nên lại đóng thùng gởi xuống tầng kế dưới là tầng thứ 4: tầng Transport (Transport Layer). Khi đóng thùng gởi đi như vậy, session layer cẩn thận ghi rõ chi tiết thông tin của tầng mình vào Layer 5 Header (hay Session Layer Header).

Layer 4: Transport Layer

Tầng Transport chịu trách nhiệm quản lý và chuyển vận dữ kiện (end-to-end transmission of data) giữa 2 máy A và B. Sự chuyển vận có tin cậy hay không cũng được thực hiện ở tầng này.

Dữ kiện (ở đây là user data) được chia thành các đơn vị dữ kiện nhỏ hơn gọi là segment trước khi chuyển đi qua phương thức packet switching (trình bày ở phần 1). Các đơn vị nhỏ này sẽ được ... tái hợp (như ... Thuý Kiều tái hợp Kim Trọng sau nhiều năm xa cách) trở lại thành user data ở máy B.

Tầng Transport dùng 2 quy ước:

  • TCP (Transport Control Protocol): cho sự chuyển vận tin cậy (reliable communication).

  • UDP (User Datagram Protocol): cho sự chuyển vận cố gắng, hiệu quả tới đâu hay tới đó và không cần biết dữ kiện đi tới nơi an toàn hay không (best effort communication).

Cũng giống như tầng Session, tầng Transport của máy A không đối thoại trực tiếp với tầng Transport của máy B (web server) nên lại đóng thùng gởi xuống tầng kế dưới là tầng thứ 3: tầng Network (Network Layer). Khi đóng thùng gởi đi như vậy, transport layer cẩn thận ghi rõ chi tiết thông tin của tầng mình vào Layer 4 Header (hay Transport Layer Header).

Tầng Transport và tầng Network còn gọi chung ở kiểu mẫu TCP/IP là TCP/IP (Transport Protocol/Internet Protocol). Đây chính là kiểu mẫu đuợc tham khảo chi tiết trong khoá học này.

Layer 3: Network Layer

Tầng Network chịu trách nhiệm quản lý các tuyến đường chuyển vận dữ kiện giữa 2 máy A và B. Anh Ngữ gọi là routing. Đây cũng chính là chỗ hoạt động của thiết bị Router hay Gateway.

Các đơn vị dữ kiện ở tầng này gọi là packets (network layer packets) được chuyển vận theo kiểu điện tín (datagram) không tin cậy. Sự chuyển vận dữ kiện tin cậy hay không được phó thác cho tầng Transport với quy ước TCP. Ở đây, tầng Network chỉ chuyển các đơn vị dữ kiện tùy theo phán đoán của mình, tỷ như: điện tín đi Sài Gòn qua cổng A, đi Hà Nội qua cổng B, ... Nếu điện tín dài quá, tầng này còn có nhiệm vụ cắt thành các đơn vị dữ kiện nhỏ hơn, có đánh số (sequence number) cho dễ phân biệt. Sự cắt nhỏ này gọi là fragmentation. Các đơn vị này sẽ được tái hợp trở lại (de-fragmentation) ở tầng Network của máy B.

Cũng giống như tầng Transport, tầng Network của máy A không đối thoại trực tiếp với tầng Network của máy B (web server) nên lại đóng thùng gởi xuống tầng kế dưới là tầng thứ 2: tầng Data Link (Data Link Layer). Khi đóng thùng gởi đi như vậy, transport layer cẩn thận ghi rõ chi tiết thông tin của tầng mình vào Layer 3 Header (hay Network Layer Header).

Một trong những thông tin quan trọng trong header tầng này có thể kể là địa chỉ IP (Internet Protocol Address) của nguồn gởi (source address) và nguồn nhận (destination address). Các IP address này phải duy nhất, không được trùng hợp.

Layer 2: Data Link Layer

Tầng Data Link chịu trách nhiệm soạn thảo khuôn dạng việc chuyển vận dữ kiện (how data is formatted) và kiểm tra sự xuất nhập các frames vào tầng kế dưới là tầng Physical. Nói gọn lại là đóng khung chuỗi dữ kiện (framing) trước khi chuyển xuống tầng kế dưới. Tầng này cũng chịu trách nhiệm rà tìm và điều chỉnh lỗi (error detection and correction) bảo đảm việc chuyển vận tin cậy. Tầng Data Link kết hợp chặc chẻ với tầng Physical qua địa chỉ MAC (Media Access Control address) của NIC (Network Interface Card) gắn trong máy vi tính. MAC address gồm 48 bits như sau:

 
Broadcast bit Local bit 22 bits OUI 24 bits VA

  • Broadcast bit = 1: báo cho nơi nhận là frame broadcast (truyền cho tất cả) hay multicast (riêng 1 nhóm).

  • Local bit = 1: cho mạng cục bộ

  • 22 bits OUI: Organisational Unique Identifier dành riêng mỗi công ty chế tạo NIC. Mỗi công ty có 1 số OUI khác nhau do IEEE (Hiệp Hội Kỹ Sư Điện, Điện Tử) quy định.

  • 24 bist VA: do mỗi công ty quy định (Vendor Assigned) cho mỗi NIC.

Cũng giống như tầng Network, tầng Data Link của máy A không đối thoại trực tiếp với tầng Data Link của máy B (web server) nên lại đóng thùng gởi xuống tầng kế dưới là tầng cuối cùng: tầng Physical (Physical Layer). Khi đóng thùng gởi đi như vậy, data link layer cẩn thận ghi rõ chi tiết thông tin của tầng mình vào Layer 2 Header (hay Data Link Layer Header). Một trong những thông tin quan trọng trong header tầng này có thể kể là địa chỉ MAC (MAC Address) của nguồn gởi (source address) và nguồn nhận (destination address).

Layer 1: Physical Layer

Tầng này định rõ các chi tiết kỹ thuật, tỷ như: dòng điện thế (voltage levels), chu kỳ, tần số, physical data rates, khoãng cách truyền, các đầu nối (physical connectors), dòng điện tử, cơ khí, phương thức, thủ tục và chức năng, ... để khởi động, quản lý, bảo trì hay đóng mở các nối nhằm yểm trợ sự chuyển vận dữ kiện giữa 2 máy A và B. Từ đó, máy vi tính nối liền vào mạng điện toán (Computer Network) chằng chịt toàn cầu qua đủ loại thiết bị, tỷ như: internal or external analog modem với PSTN (public siwtching telephone network), X25, ISDN, ADSL, Cable, Optical Fibre, leased line, Frame Relay, ATM, ... và qua các công ty viễn thông và cung cấp dịch vụ (ISP - Internet Service Provider). Trong trường hợp mạng cục bộ (LAN - Local Area Network) phổ biến nhất vẫn là Category 5 cable, còn gọi là UTP (Unshield Twisted Pairs) cable.

Như vậy, một cách tổng quát, tầng Physical chịu trách nhiệm chuyển vận các chuỗi (streams) những số 0 (đóng hay OFF hay False) và 1 (mở hay ON hay True) trong hệ thống nhị phân (hệ thống này sẽ được trình bày trong những bài sau). Các số 0 hay 1 được gọi là bit. Các chuỗi này bao gồm tất cả thông tin các tầng 2 đến tầng 7.

 

Streams of BITS

Các chuỗi này khi chuyển vận từ máy A đến máy B, sẽ được xử lý và khai thác theo một chu kỳ nghịch với chu kỳ vừa trình bày ở trên, nghĩa là bắt đầu từ tầng 1 (tầng Physical) nối với máy B đi ngược trở lên tầng 7 (tầng Application). Máy B có thể được nối với máy A qua mạng cục bộ hay mạng toàn cầu. Cứ mỗi khi chuỗi dữ kiện được chuyển vận đến tầng nào, tầng đó sẽ tham khảo thông tin trong header của tầng mình, xử lý thích ứng và sau đó tháo bỏ header tầng (de-encapsulation) của mình để chuyển lên tầng kế. Cuối cùng, dữ kiện (user data) của máy A được đến máy B, trong trường hợp này là máy cung cấp dịch vụ về mạng (web server) của Vovisoft.

Máy B (Vovisoft web server) hiểu rõ yêu cầu máy A và gởi trả về trang chủ (Home Page) của Vovisoft. Thế là ... 'bánh xe lịch sử lại tiếp tục xoay vần', các dữ kiện lại đóng thùng gởi đi một chu kỳ y chang như ở máy A. Cuối cùng, ta có thêm một dịch vụ thành công trong dòng siêu xa lộ thông tin toàn cầu.

1.3 Kiểu Mẫu Internet (Internet Model of Networking)

Mặc dầu mọi tranh luận về các quy ước (protocols) trong mạng điện toán (Computer Network) đều trích dẫn từ kiểu mẫu OSI nhưng kiểu mẫu Internet với quy ước TCP/IP không tuân theo các tiêu chuẩn đệ trình của ISO. Lý do đơn giản là kiểu mẫu Internet đã được dùng và phổ biến rộng khắp, ta gọi là tiêu chuẩn de-facto. Tuy nhiên, kiểu mẫu Internet vẫn phù hợp các đòi hỏi của mạng như kiểu mẫu OSI. Ta có thể phân chia và xếp loại như sau:

Như vậy, tầng Network của kiểu mẫu Internet chứa đựng tất cả mọi đặc tính của các tầng Physical và Data Link mà tầng Internet (hay còn gọi là tầng IP - Internet Protocol) đòi hỏi. Tầng Internet của kiểu mẫu Internet tương đương với tầng Network của kiểu mẫu OSI. Tương tự như vậy cho các tầng Transport và tầng Application của kiểu mẫu Internet.

Tổng quát, ta chia các quy ước thành các tầng riêng biệt để hoạt động 1 cách độc lập với quy ước của tầng kế trên hay kế dưới. Giữa các tầng này, đương nhiên là các giao diện tiêu chuẩn (standardised interfaces) và do đó, có thể áp dụng rộng rãi mọi kiểu mạng. Chẳng hạn, trong mạng Ethernet, người dùng có thể sử dụng IP (Internet Protocol) hay IPC hay NetBEUI hay bất cứ một Layer 3 Protocol nào cũng được. Ngược lại, IP cũng có thể chạy trong mạng Token Ring, X.25, Frame Relay, PPP (Point-to-Point Protocol), HDLC, FDDI, ATM hay bất cứ một Layer 2 Protocol nào cũng được, ngay cả trong mạng Satellite hay vô tuyến (wiresless physical network). Lưu ý ở đây, TCP/IP hay UDP/IP được cải biên để dùng trong mạng Satellite, vẫn có nhiều quy ước thích hợp khác, tỷ như: XTP, SCPS, ... sẽ được trình bày sơ lược ở các bài sau.

Header ở mỗi tầng và dữ kiện (user data) sẽ trở thành dữ kiện ở tầng kế (ta gọi là payload). Tiến trình gói / mở bao bì hay đóng / mở thùng này gọi là encapsulation / de-encapsulation. Mặc dù, encapsulation giúp tính linh hoạt của mạng nhưng đôi khi trở thành vấn đề cho mạng. Thí dụ, trong mạng ATM, mỗi tổ dữ kiện (ATM cell) gồm tổng cộng 55 bytes (với 1 byte bằng 8 bits) mà TCP và IP header chiếm hết 40 bytes, chừa lại 15 bytes cho payload, quả là quá ít cho việc chuyển vận thông tin trong mạng, đó là chưa kể vài thông số lựa chọn tùy ý (optional parameters).

Tóm lại, mặc dù có rất nhiều quy ước (protocols) hiện hành không tuân thủ các tiêu chuẩn OSI như đã trình bày ở trên nhưng kiểu mẫu OSI được chấp nhận và khuyến khích rộng rải khắp nơi nhờ phân chia trách nhiệm rõ ràng cho mỗi tầng một khiến cho việc thiết kế, phát triển hay kiểm tra mạng dễ dàng hơn. Nói chung, ta có khuynh hướng dựa vào kiểu mẫu OSI để phân tích và đánh giá các protocols khác.

Theo Vovisoft

3Cdotcom   Dịch vụ hosting tốt nhất cho dữ liệu" www.hosting.net.vn

Download Portable IDM
PM download file trên mạng cực nhanh, nhỏ gọn, miễn phí

   Download Winrar 3.80
PM nén và giải nén file xuất sắc. Chương trình nhỏ gọn, dễ sử dụng.

    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]

    Download BKAV Home
    phiên bản mới nhất

    Bài mới cập nhật
    Virus “tự lai tạo” đang thách thức các phần mềm bảo mật
    Laptop 3D Asus được bán tại VN giá 51,6 triệu đồng
    Phân tích hành động của Malware với Joebox Online Sandbox
    Lấy thông tin thư mục nhanh chóng với GetFoldersize
    Nokia N900 bán tại VN giá 12,9 triệu đồng
    Máy tính xách tay có thời lượng pin 18 giờ
    Laptop Samsung lần đầu tiên ra mắt tại Việt Nam
    Laptop đa phương tiện MSI CR620
    Windows Phone 7 không hỗ trợ copy/paste
    Microsoft giới thiệu thử nghiệm sơ bộ Internet Explorer 9
    Điện thoại quay phim HD xuất hiện tại TP HCM
     
     
     
    COMPUTER - COMMUNICATION - CONTROL 3C, INC.
    Số 6 - Láng Hạ - Ba Ðình - Hà Nội; Tel: 84.4.38312695; Fax: 84.4.38311925
    Copyright © 2005 3C INC. All rights reserved.