Bài 1 - Computer Network và kiểu mẫu OSI
2.1 Phân loại các quy
ước về mạng
Các hệ quy ước (protocol families) có thể
phân loại dựa trên cơ sở kiểm tuyến hay phi kiểm tuyến (routable
hay non-routable protocols) và cơ sở tiêu chuẩn hay độc quyền (standard hay
proprietary protocols).
Một quy ước thuộc loại phi kiểm tuyến
(non-routable protocol) có thể được thiết kế và thực hiện đơn giản nhưng
chỉ có thể dùng trong mạng cục bộ (local area network) và trên thực tế, giới
hạn việc phát triển có tính cách quy mô rộng lớn hơn. Ngược lại, một quy
ước thuộc loại kiểm tuyến (routable protocol) cho phép chuyển dữ kiện
xuyên mạng nhưng cần phải có một phương thức hợp lý đế ấn định điạ chỉ
của từng máy vi tính một trong phạm vi toàn cầu (some need of global
addressing) cũng như phương pháp phát hiện vị trí của nó (a way of
discover) trong mạng điện toán (Computer Network).
Còn các hệ quy ước (protocol families)
phân loại dựa trên cơ sở tiêu chuẩn hay độc quyền (standard và
proprietary) đặc trưng hay chuyên biệt của mỗi công ty. Các hệ này không
mở (open) và phổ biến rộng rãi, các công ty khác không được dùng mà
không xin phép. Trong khi các quy ước TCP/IP, OSI, XTP và SCPS được phát
triển, sử dụng và phổ biến 1 cách tổng quát, các quy ước SNA, DECnet hay
AppleTalk được giữ độc quyền sử dụng bởi các công ty thiết kế ra nó, tỷ
như: IBM với SNA, Digital với DECnet hay Apple với AppleTalk nhằm mục
đích nối các máy vi tính do công ty sản xuất mà thôi. Mặc dù, sau này có
nhiều cung cấp máy vi tính sử dụng quy ước độc quyền do tính phổ thông
của nó, tỷ như: NetBEUI (thuộc Micosoft) hay IPX/SPX (thuộc Novell)
nhưng các công ty mẹ vẫn nắm giữ phần kiểm soát các đặc điểm kỹ thuật
(specifications).
Phân loại trên cơ cở kiểm tuyến:
|
Routable Protocols |
Non-routable protocols |
TCP/IP
AppleTalk
IPX/SPX
OSI
Banyan VINES |
SNA
NetBEUI
DECnet
|
Các hệ quy ước này cũng có thể phân loại
dựa trên cơ sở tiêu chuẩn và độc quyền:
|
Standard |
Proprietary |
TCP/IP
XTP
OSI
SCPS |
SNA
NetBEUI
DECnet
AppleTalk
IPX/SPX
XNS
Banyan VINES |
2.2 XNS
Xerox Network System (XNS) là một trong
các quy ước về mạng đã có từ những ngày đầu tiên. Năm 1970, Xerox phát
triển quy ước này để chuyển hồ sơ và in ấn (print and file server
protocol) cho các server của mình. XNS, cũng giống như các đóng góp tiền
phong khác của Xerox, tỷ như: Ethernet, mouse, giao diện hình (graphical
interface), ... đã được phổ biến rộng rãi nhờ các công ty khác. Novell
va Banyan nuôi dưỡng, sửa đổi và sử dụng cho các sản phẩm server chuyên
trị hồ sơ và in ấn trong khi chính Xerox chỉ dùng XNS để nối các máy in
cao tốc (high-speed printers) vào máy cung cấp dịch vụ in ấn (print
servers) của mình.
2.3 SNA
IBM phát triển SNA (System Network
Architecture) để nối các máy vi tính đơn giản (dump terminals)
và các máy ngoại vi (components và peripherals) vào
mainframe của mình. SNA có thể dùng trên mạng X.25, Point-to-Point
connection hay cả mạng cục bộ Token Ring. Khởi đầu, SNA không thuộc quy
ước kiểm tuyến và chỉ dùng nối máy vi tính IBM vào mainframe nhưng thế
hệ thứ nhì được cải tiến thành APPN (Advanced Peer-to-Peer Networking)
là quy ước kiểm tuyến (routable protocol).
2.4 AppleTalk
Công ty Apple tiên phong trong việc thiết
kế quy ước nối mạng ngay trước cả Novell. Những ai sử dụng máy vi tính
Apple Macintosh đã trao đổi hồ sơ và dùng chung một máy in hay các thiết
bị ngoại vi từ lâu. Quy ước AppleTalk
cách mạng trong việc nối mạng hết sức đơn giản và gần như tự động nối
không cần người sử dụng bố trí gì rắc rối cả. Tuy nhiên, quy ước này chỉ
dùng trong mạng và máy vi tính do Apple cung cấp. Trong những phiên bản
Hệ Điều Hành gần đây chẳng hạn OS X, để theo nhịp phát triển của
Internet, Apple dùng TCP/IP làm quy ước chính về mạng trong khi vẫn giữ
AppleTalk nối các máy in và các máy ngoại vi vào máy vi tính Macintosh.
2.5
Netware Protocols
Công ty Novell với các sản phẩm Netware
đột phá và dẫn đầu thị trường mạng với quy ước
IPX/SPX (Internetwork Packet Exchange/Sequenced Packet Exchange)
trong nhiều năm. IPX và SPX phát xuất từ XNS, có công dụng và trách
nhiệm tương tự như IP và TCP. Nhắc lại ở đây, khi đó TCP/IP chỉ phổ biến
trong các đại học và là quy ước mạng chính trong các máy Unix. Netware
yểm trợ nối các máy vi tính loại PC (Personal Computer), tỷ như: các máy
vi tính hệ DOS, Windows 3.1, Windows 3.11, ... vào các máy cung cấp dịch
vụ về hồ sơ (file servers), các máy in, e-mail. Netware tương đối dễ
dùng và mau chóng trở nên phổ biến trong những thập niên 1980 đến 1990.
Tuy nhiên, cuối thập niên 1990, khi
Internet bùng nổ, quy ước TCP/IP được dùng như quy ước tiêu chuẩn trong
Hệ Điều Hành Microsoft Windows nhanh chóng đẩy lùi IPX/SPX xuống hàng
thứ yếu. Novell chuyển các sản phẩm mới dùng TCP/IP (từ Netware phiên
bản 4) làm quy ước mặc định nhưng không còn dẫn đầu như trước đây và
càng lúc càng mất thị trường mạng.
2.6 OSI Protocol
Như đã trình bày ở bài 1, kiểu mẫu OSI
được hình thành do cố gắng của ISO nhằm tiêu chuẩn hóa các quy ước về
mạng cho mọi công ty Tin Học. Quy ước này xây dựng khái niệm trên cơ sở
quy ước TCP/IP nhưng phân chia trách nhiệm khắc khe và nghiêm ngặc hơn
nhằm yểm trợ mọi nhu cầu của mạng điện toán (Computer Network) vì TCP/IP,
mặc dù chứng minh sự hữu dụng của mình trong packet switching và mạng
điện toán (Computer Network), nhưng vẫn chưa được thiết kế đúng mức, đặt
ra nhiều vấn đề khi mở rộng mạng.
ISO và đa số cơ quan chính quyền, đặc
biệt ở Âu Châu, không công nhận nhóm IETF (1 nhóm nhỏ gồm 1 số ít Giáo
Sư Đại Học và 1 số sinh viên mới tốt nghiệp thiết kế quy ước TCP/IP) là
nhóm chính thức đặt các quy ước về mạng và do đó không chịu kế thừa,
nuôi dưỡng hay sửa đổi hoàn chỉnh quy ước TCP/IP mà phát triển 1 quy ước
riêng, tạo ra cái gọi là chiến tranh quy ước (protocol wars) từng sôi
nổi 1 thời gian.
Tiến trình thiết kế quy ước OSI rất chậm
chạp do việc phối hợp thiếu hiệu quả của quá nhiều cơ quan chính quyền
thuộc các quốc gia khác nhau. Trong khi đó, TCP/IP đã phổ biến
rộng rãi và trỡ thành tiêu chuẩn de-facto (tuy không được công nhận
chính thức nhưng ai cũng dùng) cho mạng điện toán (Computer Network).
Mặc dù, các chính phủ đã yểm trợ tối đa OSI và có nhiều nơi cấm dùng
TCP/IP trong công quyền hay quân đội nhưng OSI thất bại trong việc xâm
chiếm thị trường mạng điện toán (Computer Network) và lùi bước dần trước
TCP/IP. Hiện nay, OSI thường được dùng như cơ sở hay nền tảng để tham
khảo thiết kế về mạng điện toán (Computer Network).
2.7
NetBIOS
NetBIOS (Network
Basic Input/Output System) và NetBEUI (NetBIOS Extended User Interface)
được biết đến trong sản phẩm LanManager của công ty Microsoft
và IBM cạnh tranh với Novell. NetBIOS là quy ước dùng ở tầng Session yểm
trợ việc xài chung máy in và hồ sơ. Quy ước NetBEUI đơn giản và không
kiểm tuyến (non-routable protocol) nhằm nối các máy vi tính với các File
Server hay Print Server. Quy ước NetBIOS là thành phần quan trọng trong
mạng Windows và thường được chạy bên trên quy ước TCP/IP (còn gọi là
NetBIOS over TCP/IP).
2.8 XTP
Những năm cuối thập niên 1980, mạng điện
toán (Computer Network) trở nên 1 thành phần quan trọng không thể thiếu
trong việc sử dụng máy vi tính trong phạm vi Công Nghệ Tin Học. TCP/IP
đẩy lùi mọi quy ước khác về mạng, ngay cả OSI cũng ... 'vang bóng một
thời'. Nhưng khi băng truyền (băng thông hay bandwidth) càng lúc càng nở
phình ra và nhiều ứng dụng (application) mới đơm bông kết trái, khuyết
điểm của TCP/IP bắt đầu bộc lộ. Để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh
chóng của Internet cũng như các hệ quy ước cao cấp (high-performance
protocol family) dùng cho các ứng dụng (applications) cao tốc (high
speed) trong băng thông rộng (broadband), các nhà nghiên cứu, các chuyên
gia, các kỹ sư Tin Học chế ra XTP (Xpress
Transfer Protocol).
Trong môi trường như vậy, XTP không những
yểm trợ hiệu quả hơn TCP/IP mà còn cung ứng nhiều đặc trưng mới khác, tỷ
như: đa truyền tin cậy (reliable multicast) và dịch vụ công nhận
datagram (acknowledged datagram service). Mặc dù XTP đã được giới thiệu
đầu năm 1990 nhưng XTP đã ... 'trễ chuyến tàu đêm'. Để phối hợp với mạng
hiện hành cùng giải quyết các yêu cầu như đã nêu trên, XTP bỏ rơi tầng
Network và thay đổi tầng Transport của mình để chạy bên trên quy ước
TCP/IP.
XTP được dùng rộng rãi trong quân đội và
đa số các ứng dụng (application) đa truyền (multicast).
Nhờ khả năng thích nghi với môi trường
băng thông rộng với những thay đổi bất ngờ, tỷ như: sự chậm trể (high
delay), sự mất mát (high loss) và các điều kiện băng thông bất xứng
(asymmetric bandwidth conditions), XTP rất lý tưởng trong mạng điện toán
(Computer Network) qua vệ tinh (satellite), vô tuyến (wireless).
2.9
SCPS
SCPS (Space
Communications Protocol Standards) được thiết kế đáp ứng môi
trường không gian (space environment). SCPS còn đọc là
'skips'. Các chuyên gia thiết kế
SCPS cho các nối có băng truyền rất chậm, lỗi cao (extremely high-error
links) tới vệ tinh hay các phi thuyền không gian, trong đó, một vòng đi
đi về về có thể kéo dài từ vài phút đến vài giờ. SCPS thiết kế bao gồm
TCP/IP và thêm các công dụng và quy ước chuyên biệt cho việc chuyển hồ
sơ (File Transfer), an ninh mạng (security) và chuyển vận (transport).
Hiện nay, cơ quan NASA gần như độc quyền
quy ước SCPS. Tuy nhiên, tầng transport (được biết như SCPC Transport
Protocol hay SCPS-TP) được sửa đổi nhiều để kết hợp các đặc điểm của XTP
vào nền tảng TCP nhằm thay thế TCP trong mạng điện toán (Computer
Network) qua vệ tinh.
2.10
Các hệ quy ước khác
Nhiều quy ước về mạng điện toán (Computer
Network) khác, tỷ như: DECnet hay Banyan Vines cũng được nhiều người
biết danh. DEC (Digital Electronics Corporation) sử dụng DECnet nối máy
vi tính đơn giản của mình vào main computers và khơi mào việc thiết kế
quy ước OSI trong khi Banyan Vines (phát xuất từ XNS) đã cạnh tranh kịch
liệt Novell trong việc chiếm lĩnh thị trường mạng điện toán (Computer
Network).
Tổng quát, rất nhiều quy ước về mạng được
sử dụng và cạnh tranh mãnh liệt cho đến khi Internet bùng nổ, TCP/IP trở
thành tiêu chuẩn de-facto dần dần đẩy lùi các quy ước khác.
Hiện nay,
Công Nghệ Tin Học yểm trợ tối đa TCP/IP cho mạng điện toán (Computer
Network) nối các máy vi tính, servers cùng các thiết bị, công cụ ngoại
vi như máy in, thiết bị dư trữ ngay cả điện thoại cầm tay (mobile
phone), PDA, tủ lạnh, ...
Lưu ý ở đây, nhiều quy ước khác cũng quan
trọng không kém, nhất là trong các lĩnh vực mà TCP/IP không thể cung cấp
hay yểm trợ các dịch vụ về mạng hiệu quả như XTP hay
SCPC, tuy nhiên
khóa học này sẽ không đào sâu chi tiết kỹ thuật của các quy ước đó mà
chỉ chú trọng đến TCP/IP mà thôi.
Theo Vovisoft
3Cdotcom “Dịch vụ hosting tốt nhất cho dữ liệu" www.hosting.net.vn